Tìm kiếm Blog này

Thứ Tư, 30 tháng 11, 2011


Vì Sao Nói Câu “Xin Lỗi” Khó Qúa 
Đối Với Người Việt
 
·       Báo Tuổi Trẻ đăng bài ý kiến của một người Mỹ đang sống tại Việt Nam . Báo này dịch sang tiếng Việt và xin độc giả đóng góp ý kiến: “Nếu bạn là người Việt, hay đang sống ở Việt Nam bạn nghĩ sao về bài viết này?”.
·       Dưới đây là nguyên văn bài viết của một người Mỹ tên là Alison R. Bishop đang sống tại Việt Nam viết về cách cư sử của người Việt trong đới sống hàng ngày. Anh chàng Mỹ này than rằng người Việt không biết nói câu “xin lỗi” vì sợ bẽ mặt, xấu hổ, mặc dù họ có lỗi rõ ràng. Đó cũng là nguyên nhân gây ra nhiều cuộc cãi vã, ẩu đả vô ích.
 
 
Tuần trước, trên đường đi dự một buổi tiệc, tôi ngừng xe tại một cây xăng để đổ xăng. Người bán xăng vô ý đổ nhiều qúa, làm tràn xăng ra ngoài, và xăng bắn lên chiếc áo sơ mi mới tôi đang mặc. Bị dơ áo bất ngờ, tôi không biết phải nói sao với người bơm xăng, tôi chỉ nhìn chòng chọc vào ông ta.
 
Người bán xăng cũng không nói một lời nào cả. Thực ra, ông ta có vẻ muốn ngó lơ tôi, và quay sang phục vụ người khách hàng kế tiếp. Trong lúc đứng đó, tôi cảm thấy giận hết sức, và bối rối không hiểu vì sao người bán xăng có thái độ như vậy. Tại sao ông ta không biết mở miệng nói một câu xin lỗi?
 
Một lần khác tôi đang ngồi ăn trong tiệm, tôi nhặt được một miếng nhựa dẻo – plastic-trong bát phở tôi đang ăn. Tôi hỏi nhân viên phục vụ và chủ tiệm tại sao lại có miếng nhựa trong bát phở. Họ chỉ ngây người ra nhìn tôi, không nói một câu nào cả. Một lát sau, họ đem ra cho tôi một bát phở khác, nhưng họ không thèm nói một lời xin lỗi, hay biểu lộ sự đáng tiếc về việc làm sai trái của mình.
 
Với thái độ lạnh lùng, vô cảm của người phục vụ và chủ tiệm, tôi ăn mất ngon. Sau khi trả tiền, tôi ra về, trong lòng tự hứa rằng từ nay mình sẽ không bao giờ quanh trở lại tiệm phở này nữa. Tôi thắc mắc không hiểu những người làm trong tiệm phở có học được bài học kinh nghiệm nào qua lỗi lầm của họ hay không?
 
Sau khi sống ở Việt Nam trong nhiều năm, tôi nhận ra được một điều là người Việt không muốn nhận mình làm điều gì sai trái, và nói lời xin lỗi. Khi lỗi của họ rõ ràng không thể chối vào đâu được, họ chỉ đáp lại bằng thái độ lặng thinh và né tránh, và có khi còn tìm cách cãi lại thay vì nhận trách nhiệm trước mặt người khác.
 
Tôi từng phải cãi lộn với những người khác bởi vì họ không chịu nhận sự thực là họ đã làm điều sai trái.  Chu yện này xảy ra khi tôi đến một bệnh viện điền những mẫu về bảo hiểm sức khoẻ. Mặc dù tôi đã điền xong các mẫu biểu đó, người nhân viên của bệnh viện cứ nhất định cả quyết rằng tôi không hể làm thủ tục điền các mẫu bảo hiểm.
 
Về sau tôi được biết rằng cô nhân viên đó đã làm thất lạc mấy mẫu biểu tôi đã điền xong. Lẽ ra, cô ta nên  nhận lỗi mình làm mất những mẫu này, nói một câu xin lỗi, và lễ phép đề nghị tôi điền lại các mẫu biểu đó. Tại sao cô ta cứ muốn tranh cãi  về vấn đề này?
 
Từ ngày còn bé, cha mẹ tôi đã dạy tôi phải biết nói lời xin lỗi khi mình làm việc gì sai quấy. Trong câu chuyện giữa những người trong gia đình với nhau, cha mẹ tôi vẫn thường nói câu xin lỗi khi nào họ làm điều gì sai. Tôi lớn lên trong khung cảnh mọi người sẵn sàng nói lới xin lỗi để bộc lộ sự quan tâm, lòng tử tế, và sự kính trọng lẫn nhau. Thực vậy, việc dạy cách xin lỗi người khác bắt đầu từ trong gia đình và nhà trường. Tuy vậy, ở Việt Nam , tôi tin rằng nhiều người lớn muốn chứng minh rằng họ luôn luôn đúng, và hiếm khi nào họ chịu nói câu xin lỗi với trẻ con. Như vậy làm sao họ có thể làm gương cho con cái học cách nói lời xin lỗi được?
 
Tôi phải công nhận rằng sự kiện này xảy ra từ những dị biệt văn hoá tận căn bản gốc rễ, và tôi tin rằng nó bắt nguồn từ tâm lý lo sợ bị mất mặt của dân Việt. Ở Tây phương , chúng tôi cũng coi trọng việc giữ thể diện, nhưng không đến mức gỉa vờ bỏ qua lỗi lầm của mình, và gây thiệt hại cho người khác.
 
Tôi không nghĩ có gì sai quấy khi mình làm lỗi và nói câu xin lỗi, vì thường khi con người vẫn dễ gượng dậy trở lại sau khi làm lỗi, hay bị người khác gây ra điều lầm lỗi. Thái độ sẵn sàng nhận lỗi sẽ giúp quan hệ giữa con người với nhau trở nên tốt đẹp hơn.
 
Hãy tưởng tượng xem nếu một trong hai phe của một vụ đụng xe ngỏ lời xin lỗi, việc này sẽ tránh được cãi vã, chửi nhau, làm trở ngại giao thông. Tại nơi làm việc, thay vì đổ lổi cho nhau, nếu đứng ra nhận lỗi sai trái của mình sẽ giúp mối quan hệ nơi sở làm được cải tiến, và công việc kinh doanh sẽ dễ dàng hơn.
 
Nếu bạn làm điều gì sai, bạn nên nhận lỗi và suy nghĩ cách nào để lần sau không  phạm phải lỗi lầm đó nữa. Né tránh không nhận lỗi hay đổ lỗi cho người khác sẽ chỉ làm cho bạn bị mất mặt với nhiều người hơn.
 
                                    Nguyễn Minh Tâm dịch theo báo Tuổi Trẻ  26/11/2011.

Thứ Sáu, 18 tháng 11, 2011

Đạo sĩ và con rắn


Câu chuyện luân hồi: Đạo sĩ và con rắn

Tác giả: Phi Minh


      Đây là câu chuyện xảy ra rất lâu rồi. Một đạo sĩ trẻ tuổi, nét mặt phong trần, đang vội vã băng qua núi lớn, thì đột nhiên trông thấy ở vách núi bên đường có một con rắn lớn. Chỉ thấy con rắn này toàn thân cuộn tròn một chỗ, đang ngóc đầu lên luyện tập thở ra hít vào. Đạo sĩ trong tâm kinh hãi: “Đây là một con rắn biết tu luyện, sau này nhất định sẽ hại người”. Nhìn vào bộ dạng xấu xí của nó, chàng thanh niên trong tâm chán ghét, muốn lấy tính mạng của nó, bèn nhặt lên một cục đá lớn, rồi vận sức hướng vào đầu con rắn mà đập. Chẳng ngờ nửa chừng cục đá bị vướng cành cây khiến đánh không trúng đầu, chỉ đụng một chút vào con rắn. Con rắn lớn bỗng nhiên khiếp hãi, vừa thấy đạo sĩ trẻ tuổi, nó đã vội giương mắt nhe nanh bổ nhào về phía đạo sĩ.

        Chuyển biến bất ngờ của tình huống là vượt ra ngoài dự liệu của đạo sĩ. Đặc biệt khi nhìn thấy bộ dạng hung tàn của con rắn, đạo sĩ trẻ tuổi bỗng sợ sệt, đoạn co chân chạy thục mạng. Con rắn vẫn liều mạng đuổi theo sau. Sau khi thoát khỏi tầm truy cản của con rắn, đạo sĩ lại nhặt một cục đá khác hướng vào nó mà đập, đập đúng cái đuôi, khiến con rắn đau đớn cuộn mình lại. Cũng may thế núi dốc đứng, con rắn không khống chế được, bèn lăn xuống núi đi mất. Người đạo sĩ trẻ tuổi lúc này mới thở phào, ngồi trên vệ đường kinh hoàng chưa định, nghĩ lại vẫn còn rùng mình: “Gây ra phiền phức rồi”.

       Nhiều năm sau, con rắn lớn kia đã tu luyện tiến triển, nghĩ đến đạo sĩ từng đập nó thì oán hận mãi. Một ngày nọ, ở dưới núi có mấy người đến bái sơn thần, con rắn bèn lợi dụng cơ hội phụ thể trên thân một người, sau đó lùng tìm đạo sĩ khắp nơi để báo thù. Khi ấy vị đạo sĩ đã sang tuổi trung niên, sớm không còn tâm tranh đấu nữa, qua mấy chục năm đã tu luyện được công năng túc mệnh thông, có thể tiên tri một số việc. Mỗi lần con rắn tìm ông ta, đạo sĩ đều biết trước, và luôn dùng biện pháp là lánh mặt. Có một lần khi ông lên thị trấn, con rắn phụ thể cũng vượt nghìn dặm tìm đến đây, hai bên chỉ cách nhau một bức tường; đối phương tuy cảm giác dị thường, nhưng không thể lập tức phát hiện vị đạo sĩ.

        Cứ như vậy, lão đạo sĩ lấy biện pháp lưu vong để giải quyết vấn đề, cả đời khổ sở. Kết quả sự việc này một đời vẫn giải quyết chưa xong.

        Làm người đúng là rất khổ, trong luân hồi bao đời, cho dù thân phận thế nào, giàu sang hay nghèo khổ cũng vậy, nghĩ kỹ thì chẳng qua chỉ giống một màn hí khúc mà thôi. Con người vẫn chỉ là con người, chỉ là diễn vai khác nhau, kịch bản khác nhau, kỳ thực kết quả đều là như nhau, ấy chính là chữ “khổ”.

         Đạo sĩ này chính là một đời trong luân hồi bao kiếp của tôi. Ông đã kết ác duyên với con rắn, từ đó phản ánh trong kiếp này của tôi, từ nhỏ tôi đã rất sợ rắn. Sau đó tôi may mắn tiến vào hàng ngũ tu luyện Pháp Luân Đại Pháp, được Sư phụ thanh lý hết những chướng ngại này. Tùy theo tầng thứ không ngừng đề cao, cộng thêm điểm hóa của Sư phụ, tôi mới biết nguyên do chuyện này, đều là ác duyên kiếp trước gây nên. Nếu không có sự bảo hộ của Sư phụ Pháp Luân Đại Pháp, tôi e rằng đời đời kiếp kiếp cũng không tiêu giảm nổi nợ nghiệp này.

Dịch từ:
http://zhengjian.org/zj/articles/2011/10/18/78033.html

Chủ Nhật, 13 tháng 11, 2011

Những vụ mất tích bí ẩn. Tam giác Bermuda


Tam giác Bermuda

Tác giả: Một học viên tại Nga


Chỉ cần đề cập đến địa danh này thôi là đã đủ gợi lên cho người ta một loạt các cảm xúc và hình ảnh: liên hệ với điều gì đó kỳ bí, những con tàu bị chìm và những chiếc máy bay biến mất tăm, sự biến dạng trong thời-không, sự hồ nghi, sợ hãi và một ham muốn tìm kiếm sự thật ẩn đằng sau những hiện tượng bí ẩn này.
Tam giác Bermuda là một khu vực trên Đại Tây Dương, nơi mà những vụ mất tích dường như rất kỳ lạ xảy ra trên biển và tại không trung. Khu vực này được đánh dấu bởi những đường ranh giới từ Florida tới Bermudas, qua phía Nam Puerto Rico và trở lại Florida qua Bahamas. Có một “tam giác” tương tự trên Thái Bình Dương gọi là “devilish”. Nhiều giả thuyết khác nhau đã được đưa ra để giải thích những vụ mất tích, bao gồm các hiện tượng thời tiết bất thường và sự bắt cóc của người ngoài hành tinh.

Lịch sử


“Những vụ mất tích bí ẩn” đầu tiên trên tam giác Bermuda được đã đề cập bởi một phóng viên củaAssociated Press, Edward Van Winkle Jones. Năm 1950, trong bài báo của mình, ông đặt tên khu vực này là “vùng biển của quỷ”. Tác giả của cụm từ “tam giác Bermuda” được cho là Vincent Gaddis, người từng đăng một bài viết vào năm 1964 trên một tạp chí ủng hộ thuyết duy linh, “Tam giác chết Bermuda.”

Cuối những năm 1960 và đầu những năm 1970, vô số ấn phẩm về các bí mật của tam giác Bermuda đã bắt đầu xuất hiện.

Năm 1974, Charles Berlitz đã xuất bản cuốn sách “Tam giác Bermuda”, một bộ sưu tập các vụ mất tích kỳ bí trong khu vực này. Cuốn sách trở thành sách bán chạy nhất (best-seller), và sau khi xuất bản, các lý thuyết về những đặc điểm bất thường của tam giác Bermuda đã trở nên đặc biệt phổ biến. Tuy nhiên, sau đó, người ta phát hiện thấy một số sự thật được trình bày trong cuốn sách là không chính xác.

Năm 1975, Lawrence David Kusche đã cho xuất bản một cuốn sách có tên “Bí ẩn tam giác Bermuda: Giải mã”, trong đó ông cố gắng lập luận rằng không có điều siêu nhiên hay thần bí nào từng xảy ra trong khu vực này. Cuốn sách dựa trên nghiên cứu dài hạn về các tài liệu và lời kể của các nhân chứng. Nhưng những người ủng hộ sự tồn tại của tam giác Bermuda đã phát hiện rất nhiều lỗi và mâu thuẫn trong cuốn sách này.

Tuy nhiên, những vụ việc kỳ bí xung quanh khu vực tam giác Bermuda không thể bị bỏ qua. Những vụ mất tích bí ẩn trong khu vực này đã kích thích tâm lý của nhiều người bắt đầu từ những năm 1960. Trường hợp bí ẩn và được biết đến nhiều nhất là vụ mất tích cả một đội bay của không quân Hoa Kỳ. Năm chiếc máy bay ném bom với 14 phi công đột nhiên biến mất trên màn hình ra-đa ở vùng tam giác Bermuda trong một đợt huấn luyện bay. Một chiếc máy bay với phi hành đoàn 13 người đã có một cuộc tìm kiếm nhưng cũng biến mất theo. Không chiếc máy bay hay mảnh vỡ máy bay nào được tìm thấy cho đến ngày hôm nay.

Sau 25 năm im lặng, vào năm 2003, một cuốn sách được viết bởi Gian J. Quasar: “Vào trong tam giác Bermuda: Truy tìm sự thật đằng sau bí ẩn lớn nhất thế giới” đã được xuất bản. Tác giả đã khái quát 13 năm nghiên cứu từ các nguồn chính thức, chẳng hạn tư liệu của NTSB, đội lính gác bờ biển, không quân và hải quân cùng nhiều nguồn lưu trữ nước ngoài. Danh sách những chiếc máy bay mất tích trong tam giác Bermuda có thể được tìm thấy tại: http://www.bermuda-triangle.org/html/lost_aircraft.html

Những biến cố xảy ra trong tam giác Bermuda


Những người ủng hộ thuyết tam giác Bermuda đã đề cập tới những vụ mất tích của khoảng 100 tàu thuyền và máy bay trong hơn 100 năm qua. Ngoài những vụ mất tích, cũng có báo cáo về các trường hợp tàu thuyền đang hoạt động hoàn hảo bị bỏ rơi bởi thủy thủ đoàn và các hiện tượng bất thường khác, chẳng hạn vận chuyển tức thời, sự dị thường của thời gian, v.v. David Kusche và các nhà nghiên cứu khác đã chứng tỏ có một số trường hợp đã diễn ra ngoài tam giác Bermuda. Thông tin chính thức về một số biến cố là rất khó tìm thấy. Tuy nhiên, hoạt động bất thường của la bàn trong khu vực tam giác Bermuda thậm chí đã được đề cập từ thời Christopher Columbus trong cuốn nhật ký hải trình của ông. Nhiều nhân chứng đã chia sẻ kinh nghiệm của họ khi ở trong tam giác Bermuda, bao gồm hoạt động bất thường của la bàn, đi vào những đường hầm, các đám mây kỳ lạ, đi vào trong những vật chất kỳ bí xoay chuyển tương tự như đánh trứng và thoát khỏi chúng thông qua một thứ tương tự tấm rèm, sự phát quang bất thường, ánh lửa, và nhiều điều khác.
Mô tả cảnh máy bay thoát ra khỏi đường hầm. Ảnh do Bruce Gernon cung cấp. (Nguồn: www.bermuda-triangle.org)
Các nhà khoa học nổi tiếng như Michio Kaku và Albert Einstein đã đưa ra những lý thuyết về sự khúc xạ thời gian. Einstein từng nói về “sông thời gian”. Michio Kaku, một nhà vật lý học hiện đại nổi tiếng, đã đưa ra một lý thuyết cho rằng “sông thời gian” có thể tự xoắn, rồi tạo thành “xoáy nước thời gian” mà qua đó người ta có thể đi vào các thời-không khác và “sông thời gian” này có thể tách ra. Michio Kaku cũng tuyên bố rằng có nhiều thế giới song song (các thời-không) khác nhau tồn tại ở cùng một chỗ.

Sư phụ Lý Hồng Chí, nhà sáng lập môn tu luyện Pháp Luân Đại Pháp đã đưa ra một giải thích tương tự về những hiện tượng tại tam giác Bermuda trong cuốn sách «Pháp Luân Công» của ông như sau:
“Có một số điều, ngay cả nếu quý vị không chấp nhận sự hiện hữu của chúng, nhưng chúng vẫn được phản ánh một cách trung thực trong không gian của chúng ta. Chẳng hạn như có một nơi gọi là quần đảo Bermuda, hay còn được mệnh danh là “vùng tam giác quỷ”, một số tàu bè đã biến mất trong vùng này, một số máy bay cũng mất tích luôn, và sau đó lại xuất hiện trở lại vài năm sau đó. Không ai có thể giải thích được nguyên nhân, không ai đi quá giới hạn của các tiến trình suy nghĩ và lý luận của con người. Thật ra, nó là một đường đi vào một không gian khác. Không giống như cánh cửa bình thường của chúng ta với một vị trí cố định, nó ở một trạng thái không ổn định. Nếu chiếc tàu nào tình cờ đi vào khi cánh cửa được mở, nó có thể đi vào cõi không gian khác rất dễ dàng. Con người không thể cảm nhận được sự khác biệt giữa các không gian, và họ đi vào trong một không gian khác trong nháy mắt. Khoảng cách giữa các không gian không thể nào được diễn đạt bằng dặm, như là cách xa hàng ngàn dặm. Mọi thứ đều hội tụ vào một điểm nơi đây. Các không gian khác nhau thật sự xảy ra cùng nơi chốn và cùng thời gian. Chiếc tàu nhảy vào trong một chốc lát và trở ra lại do sự tình cờ thôi. Tuy vậy, nhiều năm đã trôi qua trong thế giới này vì thời gian khác nhau ở hai cõi không gian này. Có nhiều thế giới đồng nhất hiện hữu trong mỗi không gian, tương tự như mô hình của các cấu trúc nguyên tử, một quả cầu được nối liền với quả cầu khác bằng một đoạn thẳng và rất nhiều quả cầu lẫn nhiều đoạn thẳng liên kết với nhau như vậy, nó quả thật là phức tạp.

Bốn năm trước chiến tranh thế giới lần thứ II, một phi công người Anh đang thi hành một công tác. Khi đang bay giữa chừng, anh ta đụng phải một cơn bão táp rất lớn. Dựa theo kinh nghiệm, anh ta tìm gặp một phi trường bỏ hoang. Vừa lúc phi trường xuất hiện trước mắt anh ta, một hình ảnh hoàn toàn khác hẳn đến trong tầm nhìn của anh ta, nó bỗng nhiên nắng chói và không có chút mây nào như thể anh ta vừa mới hiện ra từ một thế giới khác. Các máy bay đậu ở phi trường này sơn màu vàng, và người ta đang bận rộn làm việc trên mặt đất, anh ta có cảm giác rất lạ! Sau khi hạ cánh, không ai nhận ra anh ta. Ngay cả đài kiểm soát không lưu cũng không có liên lạc với anh ta. Người phi công quyết định rời khỏi nơi đó vì trời đã tạnh bão. Anh ta bay trở lại, và lúc tới cùng khoảng cách mà anh ta thấy phi trường này phút chốc trước đó, anh ta lại đâm đầu vào cơn bão táp một lần nữa. Cuối cùng anh ta xoay trở để ra khỏi nơi đó. Khi anh ta báo cáo tình trạng này và anh ta cũng ghi xuống trong sổ phi hành, cấp trên của anh ta không tin chuyện đó. Bốn năm sau đó, thế chiến thứ hai bùng nổ. Anh ta được thuyên chuyển đến cái phi trường bỏ hoang đó. Anh ta lập tức nhớ lại cảnh tượng xảy ra giống hệt như điều mà anh ta đã thấy bốn năm về trước. Các thầy khí công của chúng ta tất cả đều biết những thứ đó là gì. Anh ta đã làm cùng việc đó bốn năm sớm hơn là anh ta phải làm sau đó. Trước khi bắt đầu hành động, anh ta đã đến đó và diễn xuất vai trò của mình trước, và xong rồi trở lại làm đúng theo thứ tự.” («Pháp Luân Công», Chương I, (4) Các cõi không gian)
Phần còn lại là dành cho quý độc giả tự suy ngẫm về chủ đề này và đưa ra kết luận của riêng mình.
Dịch từ:
http://pureinsight.org/node/5998

Những điều thú vị về Mặt trăng!


Mặt trăng, ngươi đến từ đâu?


Một bức ảnh chụp mặt trăng. (Ảnh: Wikipedia)
    Mặt trăng đã đi theo trái đất kể từ khi nào? Có lẽ nó đã ngắm nhìn trái đất lâu hơn rất nhiều khi loài người xuất hiện trên trái đất.
Hơn 40 năm đã trôi qua kể từ khi con người lần đầu tiên đặt chân lên mặt trăng. Đó là ngày 19/7/1969, khi các phi hành gia người Mỹ của tàu Apollo 11 thực hiện sứ mệnh khám phá mặt trăng. Tuy nhiên cho tới nay, con người vẫn không khôn ngoan hơn trước bao nhiêu khi hiểu biết về mặt trăng. Ngược lại, các nhà khoa học đang lúng túng bởi những dữ liệu thu thập được từ các thiết bị đặt trên mặt trăng. Khi nhìn lên mặt trăng vào ban đêm, chúng ta vẫn chỉ có một cảm giác xa lạ tương tự. Chúng ta không thể kìm được ngoài việc hỏi: “Mặt trăng, ngươi có thể nói với chúng ta thêm một chút về bản thân ngươi được không? Chẳng hạn, ngươi đến từ đâu?”
          Hiện tại, có ba giả thuyết chính giải thích về nguồn gốc của mặt trăng. Giả thuyết thứ nhất là bụi và những đám khí vũ trụ đã hình thành mặt trăng, cũng giống trái đất chúng ta 4,6 tỷ năm trước đây. Giả thuyết thứ hai là mặt trăng đã vỡ ra từ vỏ Trái Đất bởi các lực ly tâm, và để lại một vùng trũng – được cho là Thái Bình Dương ngày nay. Giả thuyết thứ ba là mặt trăng là một hành tinh độc lập bắt được lực hấp dẫn từ trái đất khi đi ngang qua, và nó xoay quanh trái đất kể từ đó.

Hầu hết các nhà khoa học ban đầu tin vào giả thuyết thứ nhất, mặc dù một số thích giả thuyết thứ hai hơn. Tuy nhiên, việc phân tích các mẫu đất mặt trăng được mang về bởi các phi hành gia chỉ ra rằng kết cấu mặt trăng là khác với trái đất. Trái đất có nhiều sắt và ít silicon hơn cấu thành nên nó, trong khi mặt trăng thì ngược lại. Ngoài ra, trái đất có rất ít quặng titan, trong khi mặt trăng có rất nhiều. Như vậy các phát hiện này cho thấy mặt trăng không phải được vỡ ra từ trái đất. Cũng bằng cách tiếp cận tương tự, giả thuyết đầu tiên là không vững chắc. Nếu mặt trăng và trái đất được hình thành bởi quy trình tương tự và cùng lúc, thì tại sao chúng lại khác nhau về kết cấu? Các nhà khoa học đã bỏ qua giả thuyết đầu tiên, và chỉ còn lại giả thuyết thứ ba. Nếu mặt trăng đi vào hệ mặt trời từ không gian bên ngoài, thì nó nên bay về phía mặt trời, thay vì trái đất, vì lực hấp dẫn của mặt trời lớn hơn trái đất rất nhiều.

Như vậy không giả thuyết nào trong ba giả thuyết được các nhà khoa học đưa ra là có thể trả lời tường tận mọi câu hỏi. Nguồn gốc mặt trăng vẫn là một bí ẩn. Có rất nhiều không gian cho con người đưa ra các giả thuyết mới về nguồn gốc mặt trăng. Bất kể chúng có vẻ nực cười như thế nào, người ta không nên dán nhãn chúng là phản khoa học mà không suy xét cẩn thận.

Một số “trùng hợp” đặc biệt giữa mặt trời, trái đất và mặt trăng


Hãy nhìn xem và nghĩ về một số hiện tượng thiên văn đặc biệt khó tin giữa mặt trời, trái đất và mặt trăng.
Khoảng cách trung bình giữa trái đất và mặt trăng là 38.000 km, còn giữa mặt trời và trái đất là 150.000.000 km. Cái sau lớn hơn 395 lần so với cái trước. Đường kính mặt trời là khoảng 1.380.000 km, trong khi mặt trăng là 3.400 km, tỷ lệ giữa chúng cũng lại là 395 lần. Cả hai đều là 395. Liệu có thể là ngẫu nhiên không? Điều này có nghĩa là gì?

Hãy nghĩ về nó. Mặt trời lớn hơn mặt trăng 395 lần, nhưng xa hơn trái đất 395 lần so với mặt trăng. Cả hai đều có cùng kích thước khi nhìn từ trái đất, bởi vì khoảng cách là khác nhau. Đây là một hiện tượng tự nhiên hay nhân tạo? Tại đâu trong vũ trụ, người ta có thể tìm thấy ba hành tinh có cùng loại “ngẫu nhiên” này?

Mặt trăng muôn hình vạn trạng khiến con người thích thú thưởng ngoạn. (Ảnh:AFP)
Hai hành tinh thay nhau chiếu sáng trái đất, một ban ngày và một ban đêm. Không có ví dụ nào khác của hiện tượng như vậy trong hệ mặt trời của chúng ta. Nhà khoa học uy tín, Isaac Asimov, từng nói rằng theo dữ liệu hiện có, mặt trăng về nguyên tắc không nên tồn tại ở vị trí đó. Ông cũng cho biết: “Mặt trăng đủ lớn để gây ra nhật thực (solar eclipse), nhưng đủ nhỏ để gây ra hiện tượng tán mặt trời (corona). Thiên văn học của chúng ta không thể giải thích sự ngẫu nhiên trong các ngẫu nhiên này.”

Liệu đây có thực sự là ngẫu nhiên? Không hẳn, theo một số nhà khoa học. William R. Sheldon, một nhà khoa học, nói: “Để theo quỹ đạo xoay quanh trái đất, một con tàu vũ trụ phải duy trì một tốc lực 10.800 dặm/giờ ở độ cao 100 dặm. Tương tự, để mặt trăng giữ quỹ đạo cân bằng với lực hấp dẫn của trái đất, nó cũng cần một tốc lực, sức nặng, và độ cao chính xác”. Câu hỏi là: nếu một bộ các điều kiện hiện tại là không thể đạt được bằng tự nhiên, thì tại sao chúng đi theo cách này?

Quá lớn để trở thành một vệ tinh


Có một vài hành tinh trong hệ mặt trời có thể trở thành các vệ tinh tự nhiên. Tuy nhiên, mặt trăng lớn một cách bất thường để có thể là một vệ tinh. Nó quá lớn so với hành tinh mẹ của nó. Chúng ta hãy thử so sánh các dữ liệu sau đây. Đường kính trái đất là 12.756 km, đường kính mặt trăng là 3.467 km, tức bằng khoảng 27% đường kính trái đất. Đường kính sao Hỏa là 6.787 km, và nó có 2 vệ tinh. Cái lớn hơn có đường kính 23 km, tức khoảng 0,34% đường kính sao Hỏa. Đường kính sao Mộc là 142.800 km, và nó có 13 vệ tinh. Cái lớn nhất có đường kính 5.000 km, tức 3,5% đường kính sao Mộc. Đường kính sao Thổ là 120.000 km, và nó có 23 vệ tinh. Cái lớn nhất có đường kính 4.500 km, bằng khoảng 3,75% đường kính sao Thổ. Không vệ tinh nào có đường kính vượt quá 5% đường kính hành tinh mẹ của chúng, nhưng đường kính mặt trăng lại bằng 27% đường kính trái đất. Chẳng phải khi so sánh, mặt trăng lớn một cách bất thường? Dữ liệu thực sự chỉ ra rằng mặt trăng là khác thường.

Các hố thiên thạch đều quá nông


Các nhà khoa học nói với chúng ta rằng các hố trên bề mặt mặt trăng được gây ra bởi tác động của thiên thạch hay sao chổi. Cũng có các hố thiên thạch trên trái đất. Theo tính toán khoa học, nếu một tảng thiên thạch đường kính cỡ vài dặm đâm vào trái đất hay mặt trăng với vận tốc 30.000 dặm/giây, nó tương đương với 1 triệu tấn thuốc nổ, và sẽ tạo ra hố thiên thạch có độ sâu 4-5 lần đường kính của nó. Các hố thiên thạch trên trái đất đã chứng minh tính toán này là chính xác. Thế nhưng các hố thiên thạch trên bề mặt mặt trăng lại nông một cách khác thường. Lấy ví dụ, Gagrin Crater, hố sâu nhất, chỉ sâu 4 dặm, mặc dù đường kính của nó là 186 dặm. Với đường kính 186 dặm này, độ sâu hố thiên thạch nên là ít nhất 700 dặm, thay vì 4 dặm, một độ sâu chỉ bằng 12% đường kính. Đây là một điều không thể giải thích về mặt khoa học.

Tại sao như vậy? Các nhà thiên văn học không thể giải thích một cách hoàn hảo, và họ dường như không muốn đi sâu thêm nữa. Họ biết rằng một giải thích hoàn hảo sẽ lật đổ các lý thuyết đã được thiết lập. Giải thích duy nhất là lớp vỏ mặt trăng được cấu thành bởi một thứ vật chất cứng nằm dưới bề mặt của nó 4 dặm, lớp bề mặt bao phủ bởi đá và bụi. Các thiên thạch đã không thể xuyên qua lớp vỏ cứng này. Và rồi, thứ vật chất rất cứng ấy rốt cuộc là gì?

Thứ kim loại gần như không thể tồn tại


Không có gì là lạ nếu các miệng núi lửa trên bề mặt mặt trăng có một lượng lớn nham thạch. Nhưng điều kỳ lạ là nham thạch ấy chứa các nguyên tố kim loại như titanium, chromium, yttrium, v.v. mà rất hiếm thấy trên trái đất. Các kim loại này đều rất cứng, đồng thời có tính chịu nhiệt và ăn mòn rất mạnh. Các nhà khoa học ước tính cần nhiệt độ 2.000-3.000º C để làm tan chảy các kim loại này. Nhưng mặt trăng là một trái cầu đã nguội lạnh mà không có hoạt động núi lửa nào trong 3 tỷ năm. Vậy tại sao mặt trăng sản sinh ra quá nhiều thứ kim loại có sức chịu nhiệt cao như thế? Ngoài ra, việc phân tích 380 kg mẫu đất mặt trăng được đem về bởi các phi hành gia cho thấy có sắt và titan tinh khiết. Các khoáng chất kim loại tinh khiết như vậy là không thể tìm thấy dưới điều kiện tự nhiên.
Những sự thật không thể giải thích này nói với chúng ta điều gì? Không còn nghi ngờ gì nữa, chúng chứng tỏ các nhân tố kim loại này không được hình thành dưới điều kiện tự nhiên, mà được chiết lọc. Vậy thì câu hỏi là bởi ai, và khi nào?

Mặt không thể được nhìn thấy từ trái đất

Bề mặt lồi lõm ở mặt sau của mặt trăng. (Ảnh: NASA)
Luôn có một mặt của mặt trăng quay về phía trái đất. Con người không thể thấy mặt bên kia, cho tới khi phi thuyền đáp lên đó và chụp ảnh. Các nhà thiên văn luôn nghĩ rằng mặt sau của mặt trăng nên tương tự mặt trước, với nhiều hố thiên thạch và biển dung nham. Nhưng các bức ảnh cho thấy một cảnh tượng hoàn toàn khác. Mặt sau của mặt trăng rất mấp mô. Hầu hết là các hố nhỏ và những rặng núi với rất ít biển dung nham.

Các nhà khoa học không thể giải thích sự khác biệt. Về mặt lý thuyết, xác suất bị thiên thạch đánh nên là như nhau giữa hai bên mặt của mặt trăng, nếu đây là một hành tinh hình thành một cách tự nhiên. Vậy tại sao có sự khác biệt? Tại sao luôn có một phía của mặt trăng quay mặt về trái đất? Lời giải thích từ các nhà khoa học là mặt trăng xoay quanh trục của nó với vận tốc 16,56 km/giờ, và cũng xoay quanh trái đất với vận tốc tương đương. Do đó một phía của mặt trăng luôn quay mặt về trái đất.

Hiện tượng này không tồn tại ở bất cứ hành tinh nào khác cùng các vệ tinh của nó trong hệ mặt trời của chúng ta, ngoại trừ trái đất và mặt trăng. Liệu có thể lại là “ngẫu nhiên” cùng các “ngẫu nhiên” khác? Có lời giải thích nào ngoài “ngẫu nhiên” chăng?

Các hiện tượng kỳ lạ trong vài trăm năm qua


Trong 300 năm qua, các nhà thiên văn học đã quan sát nhiều hiện tượng không thể giải thích về mặt trăng. Casini đã khám phá ra một đám mây bao phủ mặt trăng vào năm 1671. Tháng 4/1786, William Herser, cha đẻ của thiên văn học hiện đại, đã quan sát được các dấu hiệu núi lửa phun trào trên mặt trăng, mặc dù các nhà khoa học tin rằng không có hoạt động núi lửa nào trên mặt trăng trong 3 tỷ năm qua. Và rồi, điều gì đã được quan sát mà trông như núi lửa phun trào?

Năm 1843, nhà thiên văn người Đức John Schicoto, người đã vẽ hàng trăm tấm bản đồ mặt trăng, đã phát hiện ra rằng hố thiên thạch Leany Crater, với đường kính gốc vài km, đã trở nên nhỏ hơn. Ngày nay, Leany Crater chỉ là một chấm nhỏ với trầm tích màu trắng bao quanh nó. Các nhà khoa học không hiểu tại sao. Ngày 24/4/1882, các nhà khoa học đã khám phá ra rằng có những vật thể không xác định di chuyển trên bề mặt vùng Aristocrat (Aristocrat’s Zone). Ngày 19/10/1945, người ta đã quan sát được 3 điểm sáng trên bức tường Darwin (Darwin Wall) tại bề mặt mặt trăng.

Tối ngày 6/7/1954, trưởng Đài Quan trắc Thiên văn Minnesota và các cộng sự của ông đã nhìn thấy một đường tối bên trong miệng núi lửa Picallomy, rồi biến mất ngay sau đó. Ngày 8/9/1955, tia chớp đã xuất hiện hai lần dọc bờ núi lửa Ross. Lại nữa, ngày 9/2/1956, Tiến sĩ Toyota thuộc Đại học Meiji, Nhật Bản đã nhìn thấy vài vật thể tối dường như đã hình thành hình dạng các ký tự DYAX và JWA.

Mặt trăng luôn quay một mặt về phía địa cầu, nhưng mấy nghìn năm trước người Maya đã đem mặt sau của nó khắc lên miếu thờ mặt trăng. Trong bức phù điêu còn có hình một thanh niên lái cỗ máy như phi thuyền. (Ảnh: Chánh Kiến Net)
Ngày 4/2/1966, một xe vũ trụ không người lái của Nga, Moon Goddess 9, đã đáp xuống biển Rain (Rain Sea) tại mặt trăng và chụp được hai dãy cấu trúc giống kim tự tháp cách đều nhau. Tiến sĩ Van Sunder tuyên bố: “Chúng có thể phản chiếu mạnh ánh mặt trời, khá giống các dấu trên đường băng”. Từ tính toán độ dài và độ sâu, người ta phát hiện các cấu trúc này có độ cao khoảng tòa nhà 15 tầng. Tiến sĩ Van Sunder nói: “Không có cao nguyên gần đó, nơi những tảng đá có thể lăn xuống vị trí hiện tại để hình thành các dạng hình học trên.”

Thêm nữa, Moon Goddess 9 cũng chụp được một cái hang bí ẩn ở bờ của biển Stormy (Stormy Sea). Chuyên gia nghiên cứu mặt trăng, Tiến sĩ Wilkins tin rằng những cái hang tròn này thông trực tiếp tới trung tâm mặt trăng. Bản thân Wilkins từng khám phá ra một cái hang khổng lồ tại hố Casiny A. Ngày 20/11/1966, tàu vũ trụ American Orbit 2 Exploration Spaceship đã chụp được vài kiến trúc hình kim tự tháp từ độ cao 46 km trên  biển Tranquility (Tranquility Sea). Các nhà khoa học ước tính các kim tự tháp cao từ 15-25 mét và cũng được định vị hình học. Các kiến trúc có màu nhạt hơn đất và đá quanh chúng, và chúng rõ ràng không phải các vật thể tự nhiên.

Ngày 11/9/1967, nhóm thiên văn học Montelow đã phát hiện một “đám mây đen với những đường viền màu tía” trên biển Tranquility. Hiện tượng kỳ lạ này không được quan sát bởi mắt thường, mà bởi các nhà thiên văn và tàu thăm dò. Điều này có nghĩa mặt trăng còn nhiều bí mật chưa được nhân loại biết đến.

Khi phi thuyền Apollo tiếp cận mặt trăng, bề mặt mặt trăng dường như không tồn tại từ trường, từ đó có thể thấy bên trong mặt trăng là rỗng. (Ảnh: Wikipedia)
UFO trên mặt trăng


Ngày 24/11/1968, tàu Apollo 8, trong khi điều tra các điểm đỗ trong tương lai, đã chạm trán một vật thể bay khổng lồ với kích cỡ vài dặm vuông. Khi Apollo 8 trở lại cùng địa điểm từ quỹ đạo của nó quanh mặt trăng, vật thể kia đã không còn ở đó. Nó là gì? Không ai biết. Tàu Apollo 10, khi đang ở độ cao 50.000 feet phía trên mặt trăng, đã được tiếp cận bởi một vật thể bay không xác định. Vụ chạm trán này đã được ghi lại thành phim tài liệu. Ngày 19/7/1969, tàu Apollo 11 mang theo ba phi hành gia, những người đầu tiên đặt chân lên mặt trăng. Khi trên đường tới mặt trăng, các phi hành gia đã nhìn thấy một vật thể lạ thường trước mặt họ. Nhìn từ khoảng cách 6.000 dặm, họ ban đầu nghĩ rằng đó phải là cánh quạt tên lửa từ Apollo 4. Nhưng khi nhìn qua ống nhòm, họ phát hiện rằng vật thể này có hình chữ L. “Nó trông như một cái va-li được mở”, Armstrong nói. Khi nhìn xa hơn bằng một kính lục phân, họ phát hiện vật thể trông như một hình trụ. Một phi hành gia khác, Aldrin, cho biết: “Chúng tôi cũng thấy vài vật thể nhỏ hơn đi ngang qua, gây náo loạn tàu chúng tôi, rồi chúng tôi thấy vật thể sáng màu hơn này bay ngang qua”. Ngày 21/7, khi Aldrin đi vào Landing Capsule để kiểm tra lần cuối, anh đột nhiên nhìn thấy hai vật thể đang bay lượn. Một trong số chúng lớn hơn và sáng hơn, bay với vận tốc cao hướng song song với mặt trước phi thuyền, rồi biến mất ngay sau đó. Nó lại xuất hiện mấy giây sau. Vào thời điểm ấy, hai vật thể phát ra những luồng sáng hợp vào nhau. Rồi chúng thình lình tách nhau ra, thăng lên nhanh chóng rồi biến mất.

Ngày 19/11/1969, tàu Apollo mang hai phi hành gia lên mặt trăng chấp hành nhiệm vụ. (Ảnh: AFP/NASA)
Khi các phi hành gia đang chuẩn bị đáp xuống mặt trăng, họ nghe một tiếng nói từ Trung tâm Điều khiển: “Trung tâm Điều khiển gọi Apollo 11, điều gì đang xảy ra ở đó?” Apollo 11 trả lời: “Những đứa trẻ nghịch ngợm, Sir… rất nhiều họ… Oh, my God, ngài sẽ không tin nó. Tôi nói rằng có các phi thuyền khác ở đó… trên bờ các hố tròn, và chúng được đỗ ngay ngắn… và chúng đang nhìn chúng tôi từ mặt trăng…” Nhà khoa học người Nga, Tiến sĩ Arched nói: “Theo những tín hiệu đứt quãng của chúng tôi, vụ chạm trán với các vật thể bay khi tàu Apollo 11 đáp xuống đã được báo cáo ngay lập tức.” Ngày 20/11/1969, hai phi hành gia Conrad và Brian của tàu Apollo 12 đã quan sát thấy các vật thể bay khi họ đáp xuống mặt trăng. Các phi hành gia đáp xuống mặt trăng từ tàu Apollo 15 vào tháng 8/1971, Apollo 16 vào tháng 4/1972, và Apollo 17 vào tháng 12/1972 cũng đã chạm trán các vật thể bay.

Gary, một nhà khoa học, từng nói: “Gần như tất cả các phi hành gia đều đã nhìn thấy những vật thể bay không xác định”. Edwards, phi hành gia thứ sáu đáp xuống mặt trăng, nói: “Câu hỏi duy nhất là họ đến từ đâu?” John Younger, phi hành gia thứ chín đáp xuống mặt trăng, nói: “Nếu bạn không tin điều đó, cũng bằng bạn không tin một điều chắc chắn”. Năm 1979, nguyên giám đốc truyền thông NASA Molly Chertlin tuyên bố rằng “chạm trán các vật thể bay” là hết sức phổ biến. Bà tiếp tục: “Tất cả các phi thuyền đều đã bị đi theo bởi một số vật thể bay, hoặc ở xa hoặc ở gần. Cho dù điều gì xảy ra, các phi hành gia sẽ liên lạc với trung tâm chúng tôi”.
Nhiều năm sau, Armstrong tiết lộ: “Thật không thể tin được… Chúng tôi đều được cảnh báo có những thành phố hay phi thuyền trên mặt trăng… Tôi chỉ có thể nói rằng phi thuyền của họ cực kỳ siêu đẳng và chúng rất lớn…” Hàng ngàn hiện tượng bí ẩn trên mặt trăng, như ánh chớp kỳ bí, những đám mây đen trắng, các cấu trúc, những vật thể bay và nhiều nữa, đều là sự thật và đã được quan sát bởi các phi hành gia và nhà khoa học. Thật khó để giải thích chúng là gì.

Mặt trăng là một phi thuyền rỗng


Năm 1970, các nhà khoa học Nga Alexander Scherbakov và Mihkai Vasin đã đưa ra giả thuyết “Phi thuyền Mặt trăng” gây sốc để giải thích nguồn gốc mặt trăng. Họ tin rằng mặt trăng thực tế không phải một vệ tinh tự nhiên của trái đất, mà là một phi thuyền được tạo ra bởi các sinh mệnh có trí tuệ, và được thiết kế và tạo hình như một hành tinh. Có rất nhiều tài liệu về nền văn minh của họ được lưu giữ bên trong mặt trăng, và được cố ý đặt trên trái đất. Tất cả các khám phá về mặt trăng thực ra là công trình xuất chúng của các sinh mệnh có trí tuệ sống bên trong đó. Tất nhiên, giới khoa học khinh miệt lý thuyết này. Tuy nhiên, không thể chối cãi được rằng mặt trăng dường như còn được chúng ta biết quá ít.

Thí nghiệm về làn sóng rung chứng minh mặt trăng là rỗng.
Điều khiến các nhà khoa học bối rối nhất chính là dữ liệu thu thập được từ các thiết bị để lại trên mặt trăng, thứ đo được các hoạt động rung trên lớp vỏ mặt trăng. Các dữ liệu chỉ ra rằng các làn sóng rung chỉ lan ra từ tâm chấn dọc theo bề mặt mặt trăng, chứ không đi vào trung tâm mặt trăng. Điều này cho thấy mặt trăng là rỗng và nó không có gì khác ngoài cái vỏ. Nếu nó là một hành tinh đặc, thì các làn sóng rung lẽ ra phải truyền vào trung tâm. Làm sao chúng chỉ chạy dọc theo bề mặt?

Xây dựng lại mới các lý thuyết về mặt trăng


Hãy thử xây dựng một lý thuyết mới về mặt trăng. Nó là rỗng và có hai lớp vỏ. Lớp vỏ ngoài cùng bao gồm đá và các quặng khoáng. Thiên thạch chỉ có thể đâm xuyên qua lớp vỏ này. Các hố thiên thạch được biết không sâu quá 4 dặm. Như vậy lớp vỏ ngoài cùng này dày gần 5 dặm. Lớp vỏ bên trong thì cứng, bao bọc bởi thứ hợp kim nhân tạo và không rõ dày bao nhiêu – có lẽ là vài dặm. Các nguyên tố kim loại của nó, bao gồm sắt, titanium, chromium, v.v. có tính chống nhiệt, áp suất và ăn mòn cao. Đây là một hợp kim chưa được biết đến trên trái đất.

Dữ liệu về rung lắc trên mặt trăng chỉ ra rằng các làn sóng rung truyền dọc theo bề mặt chứ không đi vào trung tâm. Điều này có nghĩa là mặt trăng chỉ có hai lớp vỏ nói trên. Do đó mặt trăng phải là nhân tạo, thay vì được hình thành tự nhiên. Các sinh mệnh có trí tuệ đã tiến hành những tính toán chính xác để phóng mặt trăng từ trái đất vào thời xa xưa và đặt nó tại vị trí có thể chiếu sáng trái đất vào ban đêm. Tóm lại, không có giả thuyết nào trong ba giả thuyết về nguồn gốc mặt trăng là đúng.

Quả cầu triển lãm tại Đài Bắc khiến người ta liên tưởng đến mặt trăng là vệ tinh nhân tạo thời tiền sử. (Ảnh: Tịch Thượng Trân)
Các sinh mệnh đã xây dựng mặt trăng chỉ cho phép một mặt của nó quay về trái đất, bởi vì có nhiều thiết bị quan sát trên trái đất. Phía này được mài nhẵn để phản chiếu ánh sáng mặt trời, còn họ sinh sống ở bên trong mặt trăng, gần phía sau. Bởi vì nhiệt độ bề mặt mặt trăng thay đổi từ 127º C vào buổi trưa đến -183º C vào ban đêm, nên các cư dân đó phải sống bên trong mặt trăng.

Các sinh mệnh tạo ra mặt trăng đã sáng chế ra các đĩa bay và họ thường bay ra để nghiên cứu, duy trì thiết bị bề mặt, hoặc theo dõi các hoạt động của con người trên trái đất. Họ đôi khi bị bắt gặp bởi các phi hành gia từ trái đất hay bị quan sát bởi các kính thiên văn trên trái đất. Chúng ta không biết họ là sinh vật ngoài hành tinh đến, hay là cư dân đã ở đó từ lâu. Có lẽ không lâu nữa, con người trên trái đất sẽ tìm ra sự thật về mặt trăng.
Chúng ta đã xây dựng lý thuyết này để giải thích nguồn gốc và kết cấu mặt trăng bằng cách sử dụng các hiện tượng không thể giải thích bằng khoa học truyền thống. Lý thuyết này giải quyết hoàn hảo và từng bí ẩn bao quanh mặt trăng. Ai có thể bảo cách tiếp cận này là không khoa học?

Câu chuyện có thật về mặt trăng


Trong “Giảng Pháp tại Pháp hội Thuỵ Sỹ [1998]”, ông Lý Hồng Chí, người sáng lập Pháp Luân Công đã nói như sau về nguồn gốc của mặt trăng:
Trong lịch sử không hề có trạng thái khoa học giống như ngày nay, tuy nhiên nhân loại các thời kỳ khác nhau có phương thức phát triển của các thời kỳ khác nhau. Vào thời bấy giờ, con người nhận thấy đêm tối gây ra rất nhiều phiền phức cho con người, do đó [họ] đã tạo ra mặt trăng và phóng lên, [để] nó có thể đem đến ánh sáng cho địa cầu vào ban đêm.” (bản dịch chưa chính thức)
Ông Lý Hồng Chí còn giải thích cặn kẽ hơn trong “Chuyển Pháp Luân (quyển II)”:
Thời tiền sử có những lúc, văn minh nhân loại duy trì được lâu hơn, có lúc ngắn hơn; có văn minh nhân loại duy trì được khá lâu. Mỗi thời kỳ nhân loại có con đường phát triển khoa học đều không giống nhau. Con người hiện nay đứng trong cái khung phát triển của khoa học hiện nay, họ nhận thức không nổi rằng còn có tuyến đường khoa học khác nữa. Trên thực tế khoa học của Trung Quốc cổ đại so với khoa học hiện nay có được truyền từ Âu Châu là hoàn toàn khác hẳn. Trung Quốc cổ đại là họ nhắm thẳng vào nhân thể, sinh mệnh, và vũ trụ mà nghiên cứu trực tiếp. [Những gì] sờ không thấy, nhìn không ra, thì người cổ [đại] đều dám động chạm đến, họ chính là có thể chứng thực sự tồn tại của chúng. Cảm giác của người khi đả toạ luyện công, thăng hoa đến cảm giác mạnh mẽ hơn nữa, cuối cùng không chỉ cảm giác rất mạnh, mà còn có thể động chạm đến chúng, thấy được chúng. Đó chính là khiến những thứ vô hình thăng hoa đến thành hữu hình rồi. Cổ nhân đã đi theo con đường khác, tìm tòi những áo bí của sinh mệnh, quan hệ giữa con người và vũ trụ; là hoàn toàn khác với con đường mà khoa học thực chứng hiện nay đi theo.
Thực ra, mặt trăng là người tiền sử tạo ra, bên trong nó rỗng. Nhân loại tiền sử rất phát triển.”
Dịch từ:
http://pureinsight.org/node/976

Bom nguyên tử thời cổ đại


Bom nguyên tử thời cổ đại

Tác giả: Leonardo Vintiñi

Đụn cát trong sa mạc Ai Cập. Hiện tượng nào có thể làm tăng nhiệt độ của cát sa mạc lên ít nhất 3.300 độ F, đúc nó thành những tấm thủy tinh đặc lớn màu vàng-xanh? (Wael Abed/AFP/Getty Images)
“Giờ đây ta trở thành Thần chết, kẻ hủy diệt các thế giới” – Kinh Bhagavad Gita của Ấn Độ.
7 năm sau những vụ thử nghiệm hạt nhân ở thành phố Alamogordo, tiểu bang New Mexico, tiến sĩ J. Robert Oppenheimer, cha đẻ của bom nguyên tử, lúc đó đang giảng dạy tại một trường cao đẳng. Khi một sinh viên hỏi liệu đã từng có vụ thử nghiệm nguyên tử nào ở Hoa Kỳ trước sự kiện Alamogordo hay chưa, ông trả lời:
“Có, trong thời hiện đại.”

Câu nói này, đầy bí ẩn và không thể hiểu nổi tại thời điểm đó, thực ra là ám chỉ những văn bản Hindu cổ đại mô tả một thảm họa tận thế nhưng không có liên quan tới các hiện tượng phun trào núi lửa hay những hiện tượng đã biết nào khác. Oppenheimer, người đã từng say sưa nghiên cứu tiếng Phạn cổ, lúc đó chắc chắn đang đề cập đến một đoạn trong kinh “Bhagavad Gita” mô tả một thảm họa toàn cầu gây ra bởi “một vũ khí bí ẩn, một tia sắt”.

Trong khi nó có thể là sự cảnh báo cho giới khoa học về sự tồn tại của vũ khí nguyên tử trước chu kỳ văn minh hiện tại, bằng chứng của hiện tượng này dường như thì thầm những câu thơ trong kinh “Bhagavad Gita”  ở khắp nơi trên Trái đất.

Thủy tinh trong sa mạc



Bằng chứng này không chỉ đến từ những vần thơ Hindu mà còn đến từ rất nhiều mảnh vỡ của thủy tinh nóng chảy nằm rải rác ở nhiều sa mạc trên thế giới. Các tinh thể Silicon, những vật đúc kỳ lạ, cực kỳ giống với những mảnh vỡ được tìm thấy sau những vụ nổ hạt nhân ở khu vực thử bom nguyên tử Cát Trắng tại Alamogordo.

Vào tháng 12 năm 1932, Patrick Clayton, một giám định viên từ Cơ quan Khảo sát Địa chất Ai Cập, đã lái xe giữa các cồn cát của sa mạc Biển cát lớn (Great Sand Sea), gần cao nguyên Saad ở Ai Cập, khi ông nghe những tiếng răng rắc dưới bánh xe. Khi kiểm tra điều gì đã gây ra âm thanh đó, ông đã tìm thấy những miếng thủy tinh lớn nằm trong cát.

Khám phá này đã lôi cuốn sự chú ý của các nhà địa chất trên khắp thế giới và đã đặt ra một trong những điều bí ẩn lớn nhất của khoa học hiện đại. Hiện tượng gì có thể làm tăng nhiệt độ của cát sa mạc lên ít nhất 3.300 độ F, đúc nó thành những tấm thủy tinh đặc lớn màu vàng-xanh?

Trong khi vượt qua tầm tên lửa sa mạc Cát Trắng (White Sands) Alamogordo, Albion W. Hart, một trong những kỹ sư đầu tiên tốt nghiệp Viện Công nghệ Massachusetts, đã quan sát thấy rằng những miếng thuỷ tinh mà những vụ thử hạt nhân để lại giống y hệt với những miếng thủy tinh ông quan sát thấy ở sa mạc châu Phi 50 năm trước. Tuy nhiên, kích thước của vật đúc trong sa mạc này đòi hỏi vụ nổ đó phải mạnh hơn 10.000 lần so với vụ nổ được quan sát thấy ở New Mexico.

Nhiều nhà khoa học đã tìm cách giải thích sự rải rác của các tảng thuỷ tinh lớn ở sa mạc Libya, sa mạc Sahara, Mojave, và nhiều nơi khác trên thế giới, như là các sản phẩm của các vụ va chạm thiên thạch khổng lồ. Tuy nhiên, do sự thiếu vắng của các hố thiên thạch trong sa mạc, giả thuyết này không đứng vững được. Dữ liệu hình ảnh vệ tinh cũng như các ra-đa siêu âm cũng không thể tìm thấy bất kỳ hố thiên thạch nào cả.

Hơn nữa, các tảng đá thuỷ tinh được tìm thấy ở sa mạc Libya cho thấy độ trong suốt và độ tinh khiết (99%) vốn không phải là đặc trưng của việc thiên thạch tan chảy, trong đó sắt và các chất liệu khác bị trộn lẫn với thủy tinh nóng chảy sau vụ va chạm.

Mặc dù vậy, các nhà khoa học đã đề xuất rằng các thiên thạch đã tạo ra các tảng đá thuỷ tinh có thể đã nổ tung ở độ cao vài dặm cách mặt đất, tương tự như sự kiện Tunguska, hoặc đơn giản là thiên thạch đã nảy lên theo cách mà chúng mang theo cả bằng chứng của sự va chạm, nhưng để lại nhiệt từ sự ma sát.

Tuy nhiên, điều này không giải thích được bằng cách nào 2 trong số các khu vực được tìm thấy ở rất gần nhau trong sa mạc Libya, cho thấy cùng một kiểu mẫu – xác suất của hai vụ va chạm thiên thạch ở rất gần như thế là rất thấp. Nó cũng không giải thích được sự thiếu vắng của nước trong các mẫu đá tektite (đá thủy tinh sậm màu được cho là kết quả của việc thiên thạch va chạm với vỏ trái đất) khi các khu vực va chạm được cho là đã từng tràn ngập nước vào khoảng 14.000 năm trước đây.

Thảm hoạ Mohenjo Daro thời cổ đại


Thành phố nơi nền văn hóa đã sinh ra mà ngày nay là thung lũng Indus là một bí ẩn lớn. Các tảng đá của phế tích đã kết tinh một phần, cùng với những cư dân của nó. Hơn nữa, những văn bản bí ẩn địa phương nói về một khoảng thời gian bảy ngày biết ơn đối với những chiếc xe bay. Những chiếc ‘xe bay’ ấy được gọi làVimana, đã cứu sống 30.000 cư dân khỏi một sự kiện khủng khiếp.

Năm 1927, nhiều năm sau khi khám phá ra tàn tích Mohenjo Daro, 44 bộ xương người đã được tìm thấy ở vùng ngoại ô của thành phố. Đa số đã được tìm thấy trong tư thế úp mặt xuống, nằm trên đường phố và nắm tay như thể một thảm họa nghiêm trọng đã bất ngờ ập xuống thành phố. Ngoài ra, một số bộ xương cho thấy những dấu hiệu của bức xạ không thể giải thích được. Nhiều chuyên gia tin rằng Mohenjo Daro là một dấu hiệu rõ ràng của thảm họa hạt nhân 2 thiên niên kỷ trước công nguyên.

Tuy nhiên, thành phố là không phải là thành phố cổ duy nhất được cho là đã từng trải qua thảm họa hạt nhân. Hàng chục tòa nhà thế giới cổ đại cho thấy gạch và đá nóng chảy, như cuộc thử nghiệm nhiệt mà các nhà khoa học hiện đại không thể giải thích nổi:

Pháo đài và tháp cổ ở Scotland, Ireland, và Anh
Thành phố Catal Huyuk ở Thổ Nhĩ Kỳ
Alalakh ở miền bắc Syria
Phế tích của 7 thành phố (Seven Cities), gần Ecuador
Những thành phố nằm giữa sông Hằng ở Ấn Độ và những quả đồi Rajmahal
Các khu vực của sa mạc Mojave ở Hoa Kỳ
Ở bất kỳ nơi nào trên thế giới, sự hiện diện của một nhiệt độ cực cao và những mô tả sinh động về một thảm họa khủng khiếp cho thấy rằng có lẽ trước đây đã từng có một thời đại mà người ta đã biết đến công nghệ hạt nhân – một thời đại mà trong đó công nghệ nguyên tử đã quay sang chống lại loài người.

Tham khảo:
http://www.bibliotecapleyades.net/arqueologia/esp_mohenjo_daro_1.htm
http://skepticreport.com/sr/?p=288
http://forteanswest.com/wordpress-mu/nevadalowfi/tag/robert-oppenheimer/
http://www.marmet-meteorites.com/id37.html
(Theo The Epoch Times)

Thể tùng quả ở động vật có vú có thể là con mắt thứ ba


Thể tùng quả ở động vật có vú có thể là con mắt thứ ba

Tác giả: Giáo sư Lili Feng

Sơ đồ: Thể tùng quả ở động vật có vú là con mắt thứ ba.
 “Giải phẫu y học hiện đại cũng đã phát hiện rằng, nửa bộ phận phía trước [của] thể tùng quả, nó đã được trang bị một kết cấu tổ chức đầy đủ của [một] con mắt người. Vì nó đặt ở vị trí bên trong sọ não, nên người ta giảng rằng nó là một con mắt thoái hoá. [Dù] đó có đúng là con mắt thoái hoá hay không, giới tu luyện chúng tôi vẫn bảo lưu [quan điểm của mình]. Và dù sao thì y học hiện đại cũng đã công nhận rằng tại vị trí ấy trong sọ não người có một con mắt. Chúng tôi đánh thông ra một đường nhắm vào chính điểm ấy; [nó] chính là tương hợp với nhận thức của y học hiện đại.” (Bài giảng thứ hai, Chuyển Pháp Luân)

Trong những năm gần đây, các nhà khoa học đã dần dần phát hiện ra rằng thể tùng quả (pineal gland) ở động vật có vú là một cơ quan thị giác. Tuy nhiên, thể tùng quả của động vật có vú, không như các động vật có xương sống khác, không được cho là trực tiếp cảm thụ ánh sáng. Melatonin, sản phẩm chính ở tuyến tùng quả của động vật có vú, đóng vai trò như một đại diện nội bộ vào ban đêm. Sự tiết ra melatonin tăng lên dưới các chu trình sáng-tối, tăng lên trong chu kỳ tối và giảm xuống trong chu kỳ sáng [1].
Thông tin ánh sáng có được thông qua một đường đa tiếp hợp bắt nguồn từ võng mạc và đi qua các khu vực giao thoa chéo của vùng điều khiển thân nhiệt [1]. Theo lý thuyết truyền thống, người ta coi các tế bào cảm thụ hình ảnh (photoreceptors) có dạng hình que và hình nón trong võng mạc chịu trách nhiệm cho tất cả các thông tin hình ảnh [2]. Trong quá khứ, người ta cho rằng sự ngăn chặn hình ảnh của melatonin tùng quả cũng được tiến hành thông qua tập tục cố hữu này [3] [4]. Vì thể tùng quả được đặt sâu ở bên trong sọ não, nên rất khó để tưởng tượng xem nó có thể phản ứng trực tiếp trước ánh sáng hay không. Ngay cả nếu thể tùng quả là một cơ quan thị giác, thì cũng rất khó để kiểm nghiệm giả thuyết này, chính bởi sự tồn tại của các tế bào cảm thụ hình ảnh trong võng mạc.

Năm năm sau khi cuốn sách Chuyển Pháp Luân được xuất bản, Lucas [5] đã công bố một bài viết trên tạp chíScience, một trong những tạp chí khoa học danh tiếng nhất. Họ đã mô tả một vài thí nghiệm mà họ tiến hành với những con chuột bị thiếu tế bào cảm thụ hình ảnh trong võng mạc do di truyền. Các thí nghiệm này tiết lộ rằng sự ngăn chặn hình ảnh của melatonin tùng quả vẫn không ảnh hưởng đến những con chuột thiếu các tế bào hình nón, hoặc cả hình que và hình nón do di truyền. Nghĩa là, chuột thiếu tế bào cảm thụ hình ảnh trong võng mạc do di truyền vẫn phản ứng bình thường trước ánh sáng. Điều đặc biệt đáng chú ý là một nhóm các con chuột thiếu tế bào cảm thụ hình ảnh trong võng mạc do di truyền cũng bỏ qua đường truyền tín hiệu thị giác, thế nhưng sự ngăn chặn hình ảnh của melatonin tùng quả vẫn không ảnh hưởng.

Người ta biết rằng, nếu không có các tế bào cảm thụ hình ảnh trong võng mạc và đường truyền tín hiệu thị giác thì tuyến truyền thị giác truyền thống không thể được thiết lập. Các tác giả đã không thể giải thích tại sao thể tùng quả bị thụt sâu trong sọ não lại có thể phản ứng trước ánh sáng. Họ đã đề xuất giả thuyết về sự tồn tại của “các tế bào cảm thụ hình ảnh không chính thống”. Họ đề xuất rằng có những tế bào không phải hình que cũng không phải hình nón ở trong mắt mà có thể tiến hành truyền tín hiệu hình ảnh “không hình, không ảnh”. Tuy nhiên, hiện có rất ít bằng chứng có thể ủng hộ giả thuyết này. Các tác giả Lucas và Foster cũng hoài nghi về chức năng và sự tồn tại của “các tế bào cảm thụ hình ảnh không chính thống”. Họ tin rằng điều này vẫn còn là chủ đề phải tiếp tục thảo luận [6] [7].

Ngược lại, có nhiều bằng chứng đề xuất rằng thể tùng quả có thể trực tiếp cảm thụ ánh sáng. Về mặt hóa sinh, là có lý khi tin rằng thể tùng quả có thể tiếp thụ ánh sáng. Các nhà khoa học đã nhận ra sự tương đồng giữa thể tùng quả và võng mạc. Thể tùng quả đơn giản được coi là “võng mạc được bao bọc”, và một chuỗigene chỉ có thể được biểu hiện ở mắt cũng được biểu hiện ở thể tùng quả [9] [10]. Thể tùng quả không chỉ có các tế bào cảm thụ hình ảnh, mà còn có một hệ thống hoàn chỉnh để truyền các tín hiệu thị giác [11] [13]. Điều đó chứng minh rằng, nếu có một đường truyền ánh sáng, thì thể tùng quả hoàn toàn có thể phát hiện ánh sáng. Điều này có thể giải thích tại sao sự ngăn chặn hình ảnh của melatonin tùng quả không hề ảnh hưởng đến các con chuột thiếu tế bào cảm thụ hình ảnh trong võng mạc do di truyền. Có thể tồn tại một đường truyền ánh sáng bí mật nào đó cho phép thể tùng quả của động vật có vú phát hiện ánh sáng một cách trực tiếp.

Tham khảo:
1. Rodieck, R.W., The First Steps in Seeing (Sinauer, Sunderland, MA,1998)
2. Borjigin, J., X. Li, S.H. Snyder, Annu. Rev. Pharmacol. Toxicol. 39:53,1999.
3. Klein,D.C., and J.L. Weller, Science, 177:532,1972
4. Deguchi, T., and J. Axelrod, Proc. Natl. Acad Sci. U.S.A., 69:2547,1972
5. Lucas, R.J., et. al., Science, 284:505,1999
6. Lucas, R.J., and R.G. Foster, J. BiolRhythms 14(1):4,1999
7. Lucas, R.J., and R.G. Foster, Curr. Biol, (6):R214,1999
8. Vigh, B., et. al., Biol Cell 90(9):653,1998
9. Faure, J.P., and M. Mirshahi, Curr. eye Res., 9(Suppl):163-7,1990
10. Yokoyama, S., Genes Cells, 1(9):787,1996
11. Lolley, R.N., C.M. Craft, and R.H. Lee, Neurochem Res, 17(1):81,1992
12. Schomerus, C., P. Ruth, and H.W. Korf., Acta Neurobiol Exp (Warsz), :54(Suppl):9, 1994
13.Max, M. et. al., J. Biol Chem., 273(41):26820, 1998
Dịch từ:
http://www.clearwisdom.net/emh/articles/2000/5/18/9001.html
http://www.pureinsight.org/node/164

Phát hiện vi mạch của người ngoài hành tinh trong sọ Napoleon?

Phát hiện vi mạch của người ngoài hành tinh trong sọ Napoleon?











PARIS – Thông qua khám nghiệm di thể của Napoleon Bonaparte, các nhà khoa học thừa nhận rằng họ đã “cực kỳ bối rối” trước phát hiện về một vi mạch (microchip) dài nửa inch được gắn trong hộp sọ của ông.
Họ cho biết vật thể kỳ bí này có thể là một vật cấy của người ngoài hành tinh – chứng tỏ vị Hoàng đế Pháp từng bị bắt cóc bởi UFO!

“Nhánh rẽ từ khám phá này gần như là không thể hiểu nổi”, tuyên bố của Tiến sĩ Andre Dubois, người đã đưa ra tiết lộ chấn động này cho một tạp chí y học của Pháp.

“Cho tới nay, mỗi dấu vết đều chứng tỏ rằng nạn nhân của những vụ bắt cóc của người ngoài hành tinh đều là người thường và không đóng vai trò nào trong các sự kiện trên thế giới.

“Nhưng giờ đây, chúng ta đã có bằng chứng thuyết phục rằng trong quá khứ, người ngoài hành tinh từng hành động để ảnh hưởng lịch sử nhân loại – và có thể vẫn đang tiếp tục!”

Tiến sĩ Dubois đã có phát hiện kinh ngạc này khi nghiên cứu hộp sọ được khai quật của Napoleon với số tiền chuyển nhượng 140.000 đô-la từ chính phủ Pháp.

“Tôi đang hy vọng được biết liệu có phải Napoleon đã chịu một cơn rối loạn tuyến yên dẫn tới hình hài thấp bé của mình hay không”, ông giải thích.

Nhưng thay vào đó, nhà nghiên cứu đã tìm thấy điều gì đó còn kinh người hơn: “Khi tôi khám nghiệm bên trong hộp sọ, bàn chải trên tay tôi quệt qua một cái mấu nhỏ.

“Rồi tôi nhìn vào khu vực ấy với một chiếc kính lúp – và thật kinh ngạc, vật thể đó là một loại vi mạch siêu tiên tiến.”

Từ mức độ sinh trưởng của vùng xương quanh vi mạch, vị chuyên gia tin rằng nó đã được cấy vào khi Bonaparte vẫn còn trẻ.

“Napoleon đã mất tích mấy ngày trong tháng 7 năm 1794, khi ông 25 tuổi. Sau đó ông tuyên bố mình đã bị cầm tù trong thời chính biến của Thermidor – nhưng không tồn tại ghi chép nào về vụ bắt giữ cả. Tôi tin rằng đây là thời gian vụ bắt cóc diễn ra.”

Kể từ đó, sự trỗi dậy của Napoleon giống như diều gặp gió. Ngay trong năm sau, ông đã được sắp xếp phụ trách quân đội của Pháp tại Italy.

Điều kỳ lạ là, ông đã có thể chuyển một đội quân thiếu đói và ô hợp thành một lực lượng chiến đấu đỉnh cao và đánh bại người Italy.

Dịch từ: